Truyện Ma Mối Khinh Khủng Tại Đồn Lính Pháp
ày hôm sau, bà Randall thông báo rằng bà Millford đã vui lòng cho mượn nhà hát Mozart. Bà vui vẻ tuyên bố:
– Bà ấy đã tỏ ra rất hào phóng, nhưng bà cũng đã cảnh báo tôi rằng nhà hát của bà bị cho rằng có ma. Dĩ nhiên chuyện đồn đãi này không có thật và tôi nghĩ rằng không có cháu nào ở đây phải hoảng hốt vì quá tin vào chuyện ma quỷ.
Bà Randall ngồi xuống và khắp các bàn ăn lại râm ran những câu chuyện còn bỏ dở. Ann cười nói:
– Mình rất muốn đến xem nhà hát bị ma ám đó. Nhất là mình muốn biết con ma nào đang ám nhà hát đó!
– Tao mong mày sẽ gặp con ma đó! – Letty Barclay cay cú nói. – Mày có thể đảm lắm mà!
– Con ma đó ư! Tại sao lại không! – Ann vui vẻ đáp, – càng điên càng cười nhiều!
Sau những tiết học buổi trưa, bà Hiệu trưởng cho gọi hai chị em nhà Parker lên văn phòng. Bà Gloria Millford đã trao lại bà một chiếc chìa khoá nhà hát Mozart và bà Randall đã đến tham quan.
– Mặc dù rất cũ kỹ, khán phòng thì vẫn còn sử dụng được, tuy nhiên cần phải quét dọn rất kỹ. Ta giao cho hai cháu chìa khoá, các cháu sẽ cùng vài người bạn đến đó và tính xem cần phải làm những gì để có thể bắt đầu tạm tập dượt vở kịch của chúng ta. Ta sẽ hành động theo báo cáo của các cháu.
Được giao nhiệm vụ, Liz và Ann cùng đi với Evelyn Starr:
Starhurst trước khi được đổi thành trường học thuộc gia tộc của Evelyn. Cô bé này rất duyên dáng và thân mật nhất với hai chị em nhà Paker.
Cùng đi với ba cô bé còn có Doris Harland, Audrey Freeman và Magaret Glenn. tất cả bọn họ đã học bài xong và không muốn gì hơn lợi dụng nhiệm vụ này để được giải trí thoải mái một chút.
Cả sáu nữ sinh nội trú vui vẻ lên đường đến nhà hát Mozart nằm trên con đường chính của Penfield. Trước kia nó tuyệt đẹp đến mãi bây giờ vẫn còn giữ vẻ đẹp bên ngoài.
Nhóm nhỏ nữ sinh dừng lại trước mặt tiền nhà hát. – Toà nhà rộng lớn quá! – Doris kêu khẽ khi ngước nhìn lên. Ann đưa chiếc chìa khóa vào ổ khoá to lớn và xoay nó. Cửa mở ra với một tiếng rít buồn thảm. cô bé dũng cảm bước vào.
Gian nhà có vẻ như một cái hang tối om. Từ khi nó bị bỏ phế, người ta đã cắt điện và có lẽ phải vận động một thời gian để có điện trở lại.
Đã được biết trước sự việc này nên sáu người bạn nhỏ mang theo đèn pin.
Họ lần lượt bật đèn lên. Rồi sau khi vượt qua phòng giải lao, họ bước vào khán phòng.
Sự im lặng nặng nề đến nỗi có vẻ như có thể sờ thấy được. Dù rất dũng cảm họ không phải rùng mình, khó chịu, khi tiến về hướng sân khấu.
Bỗng một tiếng kêu thật nhỏ, thật nhỏ, chỉ khẽ lọt vào tai khiến không khí đằng sau họ giao động. Không bảo nhau, sáu cô bé đồng loạt quay lại. Và rồi, họ đưa mắt nhìn lên… Trên cao, nơi hàng ghế ở bao lơn thứ ba, một ánh sáng mờ nhạt lôi cuốn tầm mắt họ. Đó là một thứ ánh sáng ma quái mang hình dáng một con người, màu trắng nhạt.
Thần kinh của Doris không còn chịu được nữa, nó đưa ngón tay về phía hình ảnh kỳ lạ và hét lên.
– Một con ma! Đó là một con ma!
Cái tính hiếu sát của hắn đã tỏ lộ rõ ràng hai lần: lần thứ nhất, khi hắn được tập “bay-don-nét” đâm vào những thằng người rơm giả làm quân địch. Hắn tự nhiên thấy nóng mắt, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau, và tưởng tượng ngay rằng những thằng người rơm đó là những kẻ bằng da bằng thịt… Chính vì thế mà lưỡi “bay-don-nét” nhọn hoắt và sáng loáng kia, hắn đâm phập vào một cách rất là sung sướng, hơn nữa, khi rút đầu nhọn ra, còn có máu nóng nung theo!
Chúng ta cũng nên công nhận cho hắn rằng trước đây, hắn không bao giờ ngờ rằng mình lại có ý muốn “thích giết người” đến như vậy… Lần thứ hai, là trong cuộc tập bắn. Mỗi phát súng của hắn trúng bia, là hắn thấy trong lòng hồi hộp vô cùng, tưởng tượng ngay rằng hồng tâm ấy chính là trái tim một kẻ trúng đạn ngã xuống và giãy giụa trong vũng máu. Cũng may là trường bắn lúc đó đông người, chứ không thì rất có thê hắn quay súng chếch đi, đê nhắm bắn vài người bạn đồng ngũ đứng không xa bia mấy, cốt đê hô to lên số điêm của người tập bắn trúng hay sai đích nhiều ít thế nào.
Một người lính thường, có một bộ thần kinh lành mạnh tất không bao giờ có những ý tưởng khát máu như hắn. Nhưng có lẽ ông thầy thuốc khi khám sức khỏe của hắn đã không lưu ý đến cái bệnh “tinh thần” kia của hắn, nên hắn mới có thê khoác được lên người bộ quân phục, và trong khi tập bắn và tập “bay-don-nét” mới có ý nghĩ ghê gớm kia!
Trong thời đại chiến thứ nhất – mà các ông “quyền” thường gọi là thời “la ghe đít-nớp-săng-cà-cộ”, cái đồn lính Pháp này, đóng sát ngay biên giới, ở một chỗ đèo heo hút gió nhưng được cái không khí trong quân ngũ cũng không lấy gì làm buồn tẻ lắm. Vì ở đây đã thu thập được một số người có rất nhiều nghề lạ: anh Vệ Choắt, trước đã đi theo gánh xiếc có tài thổi kèn “bú-dích” bằng dọc đu đủ, và vận hơi trong bụng nói được thành tiếng rõ ràng, nghe vẳng như tự đằng xa đưa lại trong khi hai môi anh không hề mấp máy chút nào… Lại anh Binh Thông, hãy còn ít tuổi mà đã bạc đầu – trước hình như đi hát tuồng trong một rạp nào ở ngõ Sầm Công hay Tam Thương gì đó – trong lúc hứng chí vẫn ca những bài hát Nam hay hát Khách, với những điệu bộ ngẩn ngơ thì thực khó ai nín cười với anh được! Lại cả anh Bếp Toóng-đơ nữa, trước có kiêm cả nghề thầy cúng, thầy tướng, cung văn và kép nhà trò nên anh không bỏ lỡ một dịp nào mà không thi thố những sở trường… Anh em trong đồn săn được một con hoẵng, thế là anh lập tức tổ chức ngay một buổi tế… bà chúa rừng. – Có đủ cả bát âm, hát nhà tư và múa bài bông nữa. Nhờ có bọn người vui tính ấy, nên không khí trong cái đồn biên giới này không bao giờ buồn tẻ, mặc dầu bọn người lìa gia đình này chẳng phải là không có nhiều lúc thương nhớ vợ con…
Đêm hôm đó, – vào hạ tuần tháng mười – đã bắt đầu giá lạnh. Trong đồn, dưới ánh mấy cây nến ấm áp, bọn Bếp Toóng-đơ đương quây quần lại mà hát cô đầu với nhau, cười nói giòn giã, thì điệu kèn “tắt lửa” nổi lên…
Binh Thông buông hai thanh tre dùng làm phách xuống, rồi ra hiệu cho Vệ Choắt tắt nến đi:
- Bọn ta quấy nhộn lắm, xem chừng ngài Đội đã có ý “trù”, kèn “tắt lửa” rồi mà còn đê nến, khéo mà anh em ăn cơm muối nhọc!
Vệ Choắt đã thổi nến, sực nhớ lại hỏi:
- À, mà cậu Cả Hợp mò mẫm đi đâu bây giờ chưa thấy về?
Cả Hợp là một anh lính mới, xinh tươi, rất được bọn các cô “mái” miền sơn cước quý mến… Hợp hiền lành, ngoan ngoãn, nên được tất cả các bạn đồng ngũ coi như đứa em nhỏ và hết sức che chở mỗi khi mắc phải lỗi lầm. Bếp Toóng-đơ chép miệng mà bảo:
- Tôi thấy thằng Hợp đi vào trong làng Mường từ lúc chập tối, chắc nó lại có hò hẹn với cô nào… Nhưng thằng bé độ này cũng mảng vui chơi quá, thường về ngủ chậm, thế nào cũng có một hôm ngài Đội vớ được lại phải tù sớm!
Nhưng không, Bếp Toáng đã quá lo xa… Lần này, dù vắng mặt lâu đến chừng nào, binh Hợp cũng không phải bị phạt.
Vì buổi sớm hôm sau, anh gác đã tìm thấy xác Hợp co quắp trên một mô đất nhỏ, cách đồn không xa mấy. Đầu Hợp bị chém gần lìa khỏi cổ, bằng một lưỡi “bay-don-nét”, lưỡi hãy còn sáng loáng một cách rùng rợn, dưới ánh t
– Bà ấy đã tỏ ra rất hào phóng, nhưng bà cũng đã cảnh báo tôi rằng nhà hát của bà bị cho rằng có ma. Dĩ nhiên chuyện đồn đãi này không có thật và tôi nghĩ rằng không có cháu nào ở đây phải hoảng hốt vì quá tin vào chuyện ma quỷ.
Bà Randall ngồi xuống và khắp các bàn ăn lại râm ran những câu chuyện còn bỏ dở. Ann cười nói:
– Mình rất muốn đến xem nhà hát bị ma ám đó. Nhất là mình muốn biết con ma nào đang ám nhà hát đó!
– Tao mong mày sẽ gặp con ma đó! – Letty Barclay cay cú nói. – Mày có thể đảm lắm mà!
– Con ma đó ư! Tại sao lại không! – Ann vui vẻ đáp, – càng điên càng cười nhiều!
Sau những tiết học buổi trưa, bà Hiệu trưởng cho gọi hai chị em nhà Parker lên văn phòng. Bà Gloria Millford đã trao lại bà một chiếc chìa khoá nhà hát Mozart và bà Randall đã đến tham quan.
– Mặc dù rất cũ kỹ, khán phòng thì vẫn còn sử dụng được, tuy nhiên cần phải quét dọn rất kỹ. Ta giao cho hai cháu chìa khoá, các cháu sẽ cùng vài người bạn đến đó và tính xem cần phải làm những gì để có thể bắt đầu tạm tập dượt vở kịch của chúng ta. Ta sẽ hành động theo báo cáo của các cháu.
Được giao nhiệm vụ, Liz và Ann cùng đi với Evelyn Starr:
Starhurst trước khi được đổi thành trường học thuộc gia tộc của Evelyn. Cô bé này rất duyên dáng và thân mật nhất với hai chị em nhà Paker.
Cùng đi với ba cô bé còn có Doris Harland, Audrey Freeman và Magaret Glenn. tất cả bọn họ đã học bài xong và không muốn gì hơn lợi dụng nhiệm vụ này để được giải trí thoải mái một chút.
Cả sáu nữ sinh nội trú vui vẻ lên đường đến nhà hát Mozart nằm trên con đường chính của Penfield. Trước kia nó tuyệt đẹp đến mãi bây giờ vẫn còn giữ vẻ đẹp bên ngoài.
Nhóm nhỏ nữ sinh dừng lại trước mặt tiền nhà hát. – Toà nhà rộng lớn quá! – Doris kêu khẽ khi ngước nhìn lên. Ann đưa chiếc chìa khóa vào ổ khoá to lớn và xoay nó. Cửa mở ra với một tiếng rít buồn thảm. cô bé dũng cảm bước vào.
Gian nhà có vẻ như một cái hang tối om. Từ khi nó bị bỏ phế, người ta đã cắt điện và có lẽ phải vận động một thời gian để có điện trở lại.
Đã được biết trước sự việc này nên sáu người bạn nhỏ mang theo đèn pin.
Họ lần lượt bật đèn lên. Rồi sau khi vượt qua phòng giải lao, họ bước vào khán phòng.
Sự im lặng nặng nề đến nỗi có vẻ như có thể sờ thấy được. Dù rất dũng cảm họ không phải rùng mình, khó chịu, khi tiến về hướng sân khấu.
Bỗng một tiếng kêu thật nhỏ, thật nhỏ, chỉ khẽ lọt vào tai khiến không khí đằng sau họ giao động. Không bảo nhau, sáu cô bé đồng loạt quay lại. Và rồi, họ đưa mắt nhìn lên… Trên cao, nơi hàng ghế ở bao lơn thứ ba, một ánh sáng mờ nhạt lôi cuốn tầm mắt họ. Đó là một thứ ánh sáng ma quái mang hình dáng một con người, màu trắng nhạt.
Thần kinh của Doris không còn chịu được nữa, nó đưa ngón tay về phía hình ảnh kỳ lạ và hét lên.
– Một con ma! Đó là một con ma!
Cái tính hiếu sát của hắn đã tỏ lộ rõ ràng hai lần: lần thứ nhất, khi hắn được tập “bay-don-nét” đâm vào những thằng người rơm giả làm quân địch. Hắn tự nhiên thấy nóng mắt, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau, và tưởng tượng ngay rằng những thằng người rơm đó là những kẻ bằng da bằng thịt… Chính vì thế mà lưỡi “bay-don-nét” nhọn hoắt và sáng loáng kia, hắn đâm phập vào một cách rất là sung sướng, hơn nữa, khi rút đầu nhọn ra, còn có máu nóng nung theo!
Chúng ta cũng nên công nhận cho hắn rằng trước đây, hắn không bao giờ ngờ rằng mình lại có ý muốn “thích giết người” đến như vậy… Lần thứ hai, là trong cuộc tập bắn. Mỗi phát súng của hắn trúng bia, là hắn thấy trong lòng hồi hộp vô cùng, tưởng tượng ngay rằng hồng tâm ấy chính là trái tim một kẻ trúng đạn ngã xuống và giãy giụa trong vũng máu. Cũng may là trường bắn lúc đó đông người, chứ không thì rất có thê hắn quay súng chếch đi, đê nhắm bắn vài người bạn đồng ngũ đứng không xa bia mấy, cốt đê hô to lên số điêm của người tập bắn trúng hay sai đích nhiều ít thế nào.
Một người lính thường, có một bộ thần kinh lành mạnh tất không bao giờ có những ý tưởng khát máu như hắn. Nhưng có lẽ ông thầy thuốc khi khám sức khỏe của hắn đã không lưu ý đến cái bệnh “tinh thần” kia của hắn, nên hắn mới có thê khoác được lên người bộ quân phục, và trong khi tập bắn và tập “bay-don-nét” mới có ý nghĩ ghê gớm kia!
Trong thời đại chiến thứ nhất – mà các ông “quyền” thường gọi là thời “la ghe đít-nớp-săng-cà-cộ”, cái đồn lính Pháp này, đóng sát ngay biên giới, ở một chỗ đèo heo hút gió nhưng được cái không khí trong quân ngũ cũng không lấy gì làm buồn tẻ lắm. Vì ở đây đã thu thập được một số người có rất nhiều nghề lạ: anh Vệ Choắt, trước đã đi theo gánh xiếc có tài thổi kèn “bú-dích” bằng dọc đu đủ, và vận hơi trong bụng nói được thành tiếng rõ ràng, nghe vẳng như tự đằng xa đưa lại trong khi hai môi anh không hề mấp máy chút nào… Lại anh Binh Thông, hãy còn ít tuổi mà đã bạc đầu – trước hình như đi hát tuồng trong một rạp nào ở ngõ Sầm Công hay Tam Thương gì đó – trong lúc hứng chí vẫn ca những bài hát Nam hay hát Khách, với những điệu bộ ngẩn ngơ thì thực khó ai nín cười với anh được! Lại cả anh Bếp Toóng-đơ nữa, trước có kiêm cả nghề thầy cúng, thầy tướng, cung văn và kép nhà trò nên anh không bỏ lỡ một dịp nào mà không thi thố những sở trường… Anh em trong đồn săn được một con hoẵng, thế là anh lập tức tổ chức ngay một buổi tế… bà chúa rừng. – Có đủ cả bát âm, hát nhà tư và múa bài bông nữa. Nhờ có bọn người vui tính ấy, nên không khí trong cái đồn biên giới này không bao giờ buồn tẻ, mặc dầu bọn người lìa gia đình này chẳng phải là không có nhiều lúc thương nhớ vợ con…
Đêm hôm đó, – vào hạ tuần tháng mười – đã bắt đầu giá lạnh. Trong đồn, dưới ánh mấy cây nến ấm áp, bọn Bếp Toóng-đơ đương quây quần lại mà hát cô đầu với nhau, cười nói giòn giã, thì điệu kèn “tắt lửa” nổi lên…
Binh Thông buông hai thanh tre dùng làm phách xuống, rồi ra hiệu cho Vệ Choắt tắt nến đi:
- Bọn ta quấy nhộn lắm, xem chừng ngài Đội đã có ý “trù”, kèn “tắt lửa” rồi mà còn đê nến, khéo mà anh em ăn cơm muối nhọc!
Vệ Choắt đã thổi nến, sực nhớ lại hỏi:
- À, mà cậu Cả Hợp mò mẫm đi đâu bây giờ chưa thấy về?
Cả Hợp là một anh lính mới, xinh tươi, rất được bọn các cô “mái” miền sơn cước quý mến… Hợp hiền lành, ngoan ngoãn, nên được tất cả các bạn đồng ngũ coi như đứa em nhỏ và hết sức che chở mỗi khi mắc phải lỗi lầm. Bếp Toóng-đơ chép miệng mà bảo:
- Tôi thấy thằng Hợp đi vào trong làng Mường từ lúc chập tối, chắc nó lại có hò hẹn với cô nào… Nhưng thằng bé độ này cũng mảng vui chơi quá, thường về ngủ chậm, thế nào cũng có một hôm ngài Đội vớ được lại phải tù sớm!
Nhưng không, Bếp Toáng đã quá lo xa… Lần này, dù vắng mặt lâu đến chừng nào, binh Hợp cũng không phải bị phạt.
Vì buổi sớm hôm sau, anh gác đã tìm thấy xác Hợp co quắp trên một mô đất nhỏ, cách đồn không xa mấy. Đầu Hợp bị chém gần lìa khỏi cổ, bằng một lưỡi “bay-don-nét”, lưỡi hãy còn sáng loáng một cách rùng rợn, dưới ánh t
Từ Khóa Tags : Truyện Ma Mối Khinh Khủng Tại Đồn Lính Pháp